Chọn phương pháp nào để điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống?

 thoái hóa  xương  cột sống  thoái hóa  đĩa xương sống là sự  thoái hóa  có tính chất hệ thống các thành phần cấu tạo của  cột sống  như: nhân nhầy và vòng sợi đĩa đốt sống, dây chằng, các khớp nhỏ, mâm sụn và thân đốt sống. Tất cả diễn biến đó, đầu tiên gây nên triệu chứng đau  cột sống , dù là không có  thoát vị  đĩa đốt sống .

 Thoát vị  đĩa đốt sống là hậu quả của bệnh  thoái hóa  xương – sụn  cột sống  mà tổn thương sớm nhất diễn ra ở nhân nhầy đĩa  cột sống . Một số lớp của vòng sợi bị đứt, gãy, rách hoặc mất năng lực co giãn, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân nhầy dịch chuyển khỏi vị trí sinh lý của nó. Sự dịch chuyển này có thể gây ra gây áp lực bao màng cứng, áp chế rễ thần kinh hoặc đè nén tủy. Có rất nhiều phương pháp trong điều trị  thoát vị  đĩa  cột sống .

Chọn phương pháp nào để điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống? 1

Chữa trị bảo tồn: tường tận thông tin nguyên cớ và những biến đổi mô sinh học trong  thoái hóa  đốt sống, chúng ta thấy việc chữa trị bảo tồn và dự phòng các căn do trên là một điều không có khả năng coi nhẹ, ngay cả một số người bệnh đã được can thiệp bằng ngoại khoa sang thương hoặc vi sang thương. Có thể nói, phần lớn các người bệnh bị  thoát vị  đĩa  cột sống  nhẹ có thể chữa trị ổn định bằng phương pháp bảo tồn. Dù vậy, các phương pháp điều trị bảo tồn như: nghỉ ngơi, chế độ sinh hoạt, dinh dưỡng, sử dụng thuốc, châm cứu, thể dục, vật lý trị liệu, phong bế thần kinh, chích xơ, massage… Không phải lúc nào cũng cho ta một thành quả mong muốn, kỳ lạ là ở những bệnh nhân có  thoái hóa   cột sống  nặng với các ổ  thoát vị  lớn gây hội chứng áp bức tủy và áp bức rễ thần kinh. Khi các cách thức chữa trị bảo tồn không đem lại thành tựu, đó là lúc bệnh nhân có thể được chỉ định can thiệp ngoại khoa. Trong can thiệp ngoại khoa, y học chia ra làm hai phương pháp: sang thương và vi sang thương.

Mổ hở: phương pháp kinh điển được thực hiện từ năm 1934 và đến nay vẫn được vận dụng nhiều, có chỉ định rộng rãi, ngoại trừ những bệnh nhân có bệnh lý kèm theo mà trong mổ hở chống chỉ định, kể cả phần chống chỉ định trong gây mê. Phương pháp mổ hở cũng chứa nhiều rủi ro và biến chứng. Mổ hở sẽ tàn phá đi một phần kết cấu bình thường của  cột sống , làm yếu  cột sống , sẹo sau phẫu thuật có thể gây co kéo dây thần kinh, nhiễm trùng vết mổ. Tâm lý của bệnh nhân thường là sợ phải phẫu thuật. Thật vậy, với  thoát vị  đĩa đêm đốt sống cổ, không phải chỉ có người bệnh ngại phẫu thuật, mà ngay cả các phẫu thuật viên còn ít kinh nghiệm vẫn băn khoăn trong quá trình thực hiện phẫu thuật có thể gây thương tổn động mạch cảnh gốc, thương tổn thực quản, khí quản, các biến chứng sau mổ như: nuốt khó, nói khàn do phù nề hoặc do co kéo thần kinh quặt ngược…

Các can thiệp vi sang thương: với sự mở mang khoa học trong lĩnh vực y tế, một loạt cách thức can thiệp ít xâm lấn hay còn gọi là vi sang thương được vận dụng như: tiêu nhân nhầy bằng hóa dược; cắt hút đĩa xương sống qua da; cắt bỏ đĩa đốt sống nội soi qua da; giảm áp đĩa  cột sống  bằng laser qua da; tiêu nhân nhầy bằng Ozon qua da; nhiệt điện trong đĩa xương sống; tạo hình nhân tủy bằng sóng Radio.

Mỗi phương pháp can thiệp ngoại khoa vi sang thương cũng như mổ hở đều có những ưu thế và giới hạn của nó. Vấn đề là người thầy thuốc cần tư vấn cho bệnh nhân hiểu hơn ưu thế và hạn chế của mỗi phương pháp, giúp cho người bệnh có niềm tin vào cách thức mà mình đã chọn.

Giảm áp đĩa  cột sống   cột sống  bằng laser qua da (viết tắt là  pldd , từ thuật ngữ tiếng Anh Percutaneous Laser Disc Decompression) là một phương pháp can thiệp vi sang thương được Choy và Ascher yêu cầu và thực hiện đầu tiên vào năm 1986 tại Áo. Tiếp sau đó, nó đã được FDA của Mỹ cho phép thực hiện. Bây giờ, phần đông các nước tiên tiến trên thế giới, nhất là Mỹ và các nước châu Âu, đã ứng dụng trên lâm sàng trong suốt 26 năm qua với những cải tiến mới về thiết bị và kỹ thuật. Mặc dù vậy, đối với  thoát vị  đĩa đốt sống, ưu tiên số 1 vẫn là điều trị bảo tồn. Khi chữa trị bảo tồn không mang đến thành quả thì nên chuyển sang điều trị bằng phương pháp vi sang thương. Chọn cách thức vi sang thương nào là lệ thuộc tình trang căn bệnh, khả năng trang dụng cụ và trình độ kiến thức, tay nghề của mỗi phẫu thuật viên. Khi cách thức điều trị bảo tồn hoặc một phương pháp vi sang thương nào như đã nêu trên không còn có chỉ định thì phẫu thuật mở lại là vị cứu tinh cho bệnh nhân.

– Thực hiện dưới gây tê tại chỗ.

– Hậu phẫu nhẹ nhàng.

– Độ an toàn cao, ít biến chứng  (< 1% ).

– Người bệnh có thể ngoại trú, không cần lưu viện.

– Không tạo sẹo, không gây xơ dính thần kinh.

– Không làm yếu đi độ bền vững của  cột sống .

– Thời gian hạn chế hoạt động ngắn.

– Có thể làm bổ sung, nếu can thiệp lần thứ nhất chưa hiệu quả.

– Không ngăn cản phẫu thuật hở (nếu cần).

– Có thể cùng lúc thực hiện ở nhiều tầng, nhiều vị trí cách xa nhau.

– Có thể cùng lúc thực hiện ở cả lưng và cổ.

– Có thể thực hiện ở những bệnh nhân mà mổ hở bất trắc.

Sự đổi thay mô sinh học trong nhân nhầy và vòng sợi đĩa xương sống sau khi laser liên quan diễn ra một thời gian sau đó, từ hiệu ứng lập tức ngay trong những ngày trước hết đến sự biến đổi mô sinh học đĩa đệm diễn ra suốt từ tuần thứ 2 đến tuần thứ 12. Ở khi này, giới hạn các hốc do năng lượng laser tạo lên trong nhân nhầy không còn rõ nữa, trong hóc đã được phủ đầy bởi mô sụn và các hạt than do quá trình đốt cháy bởi năng laser đã biến mất. Sau 10 tháng, các đổi thay mô sinh học này mới thật sự ổn định. Sự biến đổi mô sinh học này giúp chúng ta hiểu được việc duy trì chữa trị bảo tồn sau can thiệp  pldd  là rất cần thiết. Theo ghi nhận của chúng tôi, cách thức  pldd  thường có thành quả ổn định sau 4 – 5 tháng, thời gian sau đó tính ổn định càng được tăng trưởng, điều này cũng tương đồng với sự đổi thay mô sinh học trong đĩa đốt sống sau quá trình tương tác của laser. Ở những bệnh nhân có thành quả kém (chiếm khoảng 15 – 20%), người bệnh được làm bổ sung một lần nữa mà không phải chi trả kinh phí cho thủ thuật.

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*